Trong "Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện" của Bộ Y tế ban hành, có tiêu chí về kiến thức của nhân viên y tế về Nuôi dưỡng trẻ nhỏ.
 Phần E1 "Tiêu chí đặc thù chuyên khoa"  áp dụng cho Bệnh viện đa khoa có khoa Sản, Nhi và bệnh viện chuyên khoa Sản, Nhi; tiêu chí E1.4 "Bệnh viện tuyên truyền tập huấn và thực hành tốt nuôi con bằng sữa mẹ theo hướng dẫn của Bộ Y tế và UNICEFcủa Bộ Y tế ban hành năm 2013, để đánh giá chất lượng bệnh viện yêu cầu "Cán bộ khoa sản, nhi được đào tạo về tư vấn và hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ chiếm từ 50% trở lên" và  đưa ra "Có nhân viên y tế tư vấn kiêm nhiệm/chuyên trách; đã tham dự lớp tập huấn/đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và có chứng chỉ (về kiến thức và phương pháp tư vấn cho phụ nữ mang thai".

E1.4
Bệnh viện tuyên truyền, tập huấn và thực hành tốt nuôi con bằng sữa mẹ theo hướng dẫn của Bộ Y tế và UNICEF
Căn cứ đề xuất và ý nghĩa · Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 27/2/2006 của Chính phủ về kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
· Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu được đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Cho con bú mẹ hàng năm trên toàn thế giới đã cứu trên 1,5 triệu trẻ em thoát cái chêt, giảm tỉ lệ tử vong trẻ em gấp 2-3 lần, giảm tỉ lệ tiêu chảy ở trẻ gấp 14 lần. Theo tuyên bố chung của WHO/UNICEF (1989) cần phải bảo vệ, đẩy mạnh và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
· Mười điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ thành công là tóm tắt những khuyến cáo chính của WHO/UNICEF và các điểm này là cơ sở cho việc xây dựng Bệnh Viện Bạn Hữu Trẻ Em.
  Các bậc thang chất lượng
Mức 1 1. Không biết hoặc không triển khai các hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ theo tài liệu của Bộ Y tế và UNICEF.
2. Trong năm bị phát hiện vi phạm các qui định của Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 27/2/2006 của Chính phủ về kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
3. Không đạt một trong các tiểu mục từ 4 đến 5.
Mức 2 4. Có bản quy định về việc thực hiện 10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ thành công, được viết bằng ngôn ngữ thông dụng, dễ hiểu, sẵn có cho nhân viên y tế tham gia chăm sóc bà mẹ và trẻ em; được treo ở những nơi dễ quan sát.
5. Khoa sản, nhi tuyên truyền, hướng dẫn các bà mẹ không sử dụng bình bú, sữa thay thế sữa mẹ cho trẻ dưới 24 tháng nếu không có chỉ định của bác sỹ.
Mức 3 6. Đạt toàn bộ các tiểu mục từ 4 đến 5.
7. Cán bộ khoa sản, nhi được đào tạo về tư vấn và hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ chiếm từ 50% trở lên.
8. Có pa-nô, áp-phích tuyên truyền về nuôi con bằng sữa mẹ.
9. Có thực hiện tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ cho người bệnh.
10. Các bà mẹ đẻ thường được nằm cùng con suốt 24 giờ trong ngày đạt 70% (ngoại trừ các trường hợp có chỉ định của bác sỹ không được nằm cùng).
11. Trẻ sơ sinh khỏe mạnh đẻ thường được tiếp xúc “da kề da” với mẹ và cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau sinh đạt 70%.
Mức 4 12. Đạt toàn bộ các tiểu mục từ 6 đến 11.
13. Có nhân viên y tế tư vấn kiêm nhiệm/chuyên trách; đã tham dự lớp tập huấn/đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và có chứng chỉ (về kiến thức và phương pháp tư vấn cho phụ nữ mang thai).
14. Có lớp tập huấn tiền sản cho các phụ nữ mang thai, nội dung có hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ và phương pháp tiếp xúc “da kề da”.
15. Phụ nữ mang thai 3 tháng cuối đến khám thai được cán bộ y tế tư vấn miễn phí về nuôi con bằng sữa mẹ.
16. Tỷ lệ bà mẹ sau sinh được cán bộ y tế tư vấn và giúp đỡ nuôi con bằng sữa mẹ đúng cách đạt 80% trở lên trong số bà mẹ sinh tại bệnh viện.
17. Nhóm hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ của bệnh viện được thành lập và duy trì hoạt động.
18. Các bà mẹ đẻ thường được nằm cùng con suốt 24 giờ trong ngày đạt 80% (ngoại trừ các trường hợp có chỉ định của bác sỹ không được nằm cùng).
19. Trẻ sơ sinh khỏe mạnh đẻ thường được tiếp xúc “da kề da” với mẹ và cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau sinh đạt 80%.
20. Thực hành áp dụng phương pháp “cắt rốn chậm” tại bệnh viện (theo khuyến cáo của WHO và UNICEF).
Mức 5 21. Đạt toàn bộ các tiểu mục từ 12 đến 20.
22. Trẻ sơ sinh tại khoa sản được bú mẹ hoàn toàn (không ăn thức ăn gì khác, kể cả nước), ngoại trừ các trường hợp có chỉ định của bác sỹ như:
– Trẻ có mẹ bị bệnh nặng không thể cho trẻ bú sữa hoặc vắt sữa được.
– Trẻ có mẹ đang bị chiếu tia xạ hoặc phải dùng thuốc chống chỉ định cho con bú như các thuốc kháng giáp trạng, thuốc chống ung thư…
– Trẻ mắc các bệnh chuyển hoá không dung nạp được sữa mẹ.
23. Các bà mẹ đẻ thường được nằm cùng con suốt 24 giờ trong ngày đạt 95% (ngoại trừ các trường hợp có chỉ định của bác sỹ không được nằm cùng).
24. Trẻ sơ sinh khỏe mạnh đẻ thường được tiếp xúc “da kề da” với mẹ và cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau sinh đạt 90%.
25. Các trẻ sơ sinh trong trường hợp mổ đẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu đạt từ 70% trở lên.